Regorava 40mg Herabiopharm 4 vỉ x 7 viên (Regorafenib)

* Hình sản phẩm có thể thay đổi theo thời gian
** Giá sản phẩm có thể thay đổi tuỳ thời điểm

30 ngày trả hàng Xem thêm

 Các sản phẩm được đóng gói và bảo quản an toàn.

#28844
Regorava 40mg Herabiopharm 4 vỉ x 7 viên (Regorafenib)
5.0/5

Số đăng ký: 893110761724

Cách tra cứu số đăng ký thuốc được cấp phép

Tìm thuốc cùng thương hiệu Herabiopharm khác

Thuốc này được bán theo đơn của bác sĩ

Gửi đơn thuốc
Nhà sản xuất

Herabiopharm

NSX

Cùng hoạt chất

Thông tin sản phẩm

Số đăng ký: 893110761724
Hoạt chất:
Quy cách đóng gói:
Thương hiệu:
  • Herabiopharm
Xuất xứ:
Thuốc cần kê toa:
Dạng bào chế:
Hàm Lượng:
Nhà sản xuất:
Tiêu chuẩn:

Nội dung sản phẩm

Thành phần

  • Regorafenib: 40mg

Công dụng (Chỉ định)

Regorafenib được chỉ định đơn trị liệu để điều trị bệnh nhân người lớn bị:

  • Ung thư đại trực tràng (CRC) di căn đã được điều trị trước đó hoặc không phù hợp để áp dụng các liệu pháp hiện có gồm hóa trị liệu dựa vào fluoropyrimidine, một liệu pháp kháng VEGF và một liệu pháp kháng EGFR.
  • Khối u mô đệm đường tiêu hóa (GIST) không thể cắt bỏ hoặc di căn tiến triển hoặc không dung nạp với điều trị trước đó bằng imatinib và sunitinib.
  • Ung thư biểu mô tế bào gan (HCC) đã được điều trị trước bằng sorafenib.

Liều dùng

Regorafenib nên được kê đơn bởi bác sĩ có kinh nghiệm sử dụng các liệu pháp điều trị ung thư.

  • Liều khuyến cáo của regorafenib là 160 mg, uống 1 lần/ngày trong 3 tuần, sau đó ngừng điều trị 1 tuần. Khoảng thời gian 4 tuần này được xem là một chu kỳ điều trị.
  • Nếu quên một liều, nên uống thuốc ngay khi nhớ ra trong cùng ngày đó. Không nên dùng hai liều trong cùng một ngày để bù cho liều đã quên.
  • Trong trường hợp nôn sau khi dùng regorafenib, bệnh nhân không nên uống thêm liều khác.

Cách dùng

  • Dùng đường uống.
  • Nên uống regorafenib vào cùng một thời điểm mỗi ngày.
  • Nên uống nguyên viên với nước sau bữa ăn nhẹ chứa ít hơn 30% chất béo.

Quá liều

  • Liều cao nhất của Regorafenib được nghiên cứu trên lâm sàng sảng là 220 mg mỗi ngày. Phản ứng có hại của thuốc thường gặp nhất ở liều này là các biến cố trên da, mất giọng, tiêu chảy, viêm niêm mạc, khô miệng, chán ăn, tăng huyết áp, và mệt mỏi.
  • Không có thuốc giải độc đặc hiệu để điều trị quá liều Regorafenib. Trong trường hợp nghi ngờ quá liều, nên ngừng Regorafenib ngay lập tức, với chăm sóc hỗ trợ tốt nhất được áp dụng bởi một chuyên gia y tế, và bệnh nhân cần được theo dõi cho đến khi ổn định lâm sàng.

Không sử dụng trong trường hợp sau (Chống chỉ định)

  • Quá mẫn với hoạt chất hoặc với bất kỳ tá dược nào có trong thành phần của thuốc.

Tác dụng không mong muốn (Tác dụng phụ)

  • Phản ứng có hại của thuốc thường gặp nhất (> 30%) ở bệnh nhân dùng Regorafenib là suy nhược/ mệt mỏi, phản ứng da chân-tay, tiêu chảy, giảm sự thèm ăn và giảm lượng thức ăn, tăng, huyết áp, mất giọng và nhiễm trùng.
  • Các phản ứng có hại của thuốc nghiêm trọng nhất ở những bệnh nhân dùng Regorafenib là tổn thương gan nặng, xuất huyết và thủng đường tiêu hóa.
  • Một số ca tử vong đã được báo cáo

Thông báo cho bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.

Hướng dẫn cách xử trí ADR:

  • Các tai biến trên (trừ tụt đường huyết) thường xảy ra trong giai đoạn đầu khi thăm dò liều và thường giảm, rối mất đi trong quá trình điều trị. Trường hợp nặng, phải ngừng thuốc.

Tương tác với các thuốc khác

Chất ức chế / cảm ứng CYP3A4:

  • Số liệu in vitro chi ra rằng regorafenib dược chuyển hóa bởi cytochrome CYP3A4 và uridine diphosphate glucuronosyl transferase UGTIA9.
  • Dùng ketoconazole (400 mg trong 18 ngày), một chất ức chế CYP3A4 mạnh. với một liều duy nhất regorafenib (160 mg vào ngày 5) din đến sự gia tăng phơi nhiễm regorafenib trung bình (AUC) khoảng 33%. và giảm sự phơi nhiễm của các chất chuyển hóa có hoạt tính, M-2 (N-oxit) và M-5 (N-oxide và N-desmethyl) trung bình khoảng 90%. Cần tránh sử dụng đồng thời thuốc ức chế mạnh hoạt tính CYP3A4 (ví dụ như clarithromycin. nước ép bưởi, itraconazole, ketoeonazole, posaconazole, telithromycin và Yoriconazole) vì ảnh hưởng của chủng trên sự phơi nhiễm với trạng thái ổn định của regorafenib và 1 chất chuyển hóa của nó (M-2 và M -5) chưa được nghiên cứu.
  • Dùng rifampin (600 mg trong 9 ngày), một chất cảm ứng CYP3A4 mạnh, với một liều duy nhất regorafenib (160 mg vào ngày 7) dẫn đến làm giảm AUC của regorafenib trung bình khoảng 50%, tăng 3 đến 4 lần phơi nhiễm trung bình của chất chuyển hóa có hoạt tính M-5, và không thay đổi phơi nhiễm của chất chuyển hóa có hoạt tính M-2. Các chất cảm ứng mạnh hoạt tính CYP3A4 khác (ví dụ như phenytoin, carbamazepine, phenobarbital) cũng có thể làm tăng chuyển hóa regorafenib. Do sự giảm nồng độ trong huyết tương của regorafenib có thể dẫn đến giảm hiệu quả. Cần tránh sử dụng các chất gây cảm ứng mạnh CYP3A4 hoặc nên xem xét lựa chọn một thuốc thay thế khi dùng đồng thời, không có hoặc rất ít có khả năng cảm ứng CYP3A4.

Cơ chất UGT1A1 và UGTIA9:

  • Số liệu in vitro cho thấy regorafenib cũng như các chất chuyển hóa hoạt động của nó M-2 ức chế glucoronin héa trung gian bởi uridine transferases glucuronosyl diphosphate UGTIA1 và UGT1A9 trong khi M-5 chỉ ức chế UGT1A1 ở nồng độ đạt được trong cơ thể ở trạng thái ổn định.
  • Dùng regorafenib với một khoảng nghỉ dài 5 ngày trước khi dùng irinotecan làm tăng khoảng 44% AUC trung bình của SN-38, một cơ chất của UGTIA1 và là một chất chuyển hóa có hoạt tính của irinotecan. Cũng quan sát thấy có sự gia tăng phơi nhiễm trung bình AUC với irinotecan khoảng 28%.
  • Điều này cho thấy rằng việc sử dụng đồng thời regorafenib có thể làm tăng phơi nhiễm hệ thống với các Cơ chất của UGTIA1 và UGT1A9.

Cơ chất BCRP (Breast cancer resistance protein : protein kháng ung thư vú) và P-glycoprotein:

  • Dữ liệu in vitro cho thấy rằng regorafenib là một chất ức chế ~BCRP và P-glycoprotein. Điều trị đồng thời regorafenib có thể làm tăng nồng độ trong huyết tương của cơ chất của BCRP, như methotrexate, hoặc các cơ chất của P-glycoprotein, như digoxin.

Cơ chất chọn lọc của các phân nhóm CYP:

  • Dữ liệu in vitro cho thấy rằng regorafenib là một chất ức chế cạnh tranh của các cytochrome CYP2C8, CYP2C9, CYP2B6 ở nồng độ đạt được in vivo ở trạng thái ổn định (nồng độ đỉnh trong huyết tương là 8,1 micromolar). Tiềm năng ức chế in vitro đối với CYP3A4 và CYP2C19 ít rõ ràng hơn
  • Một. nghiên cứu lâm sàng thăm dò cơ chất đã được thực hiện để đánh giá hiệu quả của 14 ngày dùng regorafenib với liều 160 mg trên được động học các cơ chất của CYP2C8 (rosiglitazone), CYP2C9 (S-warfarin), CYP2C19 (omeprazole) và CYP3A4 (midazolam). Dữ liệu dược động học cho thấy rangregorafenib có thể được dùng đồng thời với các chất nền CYP2C8, CYP2C9, CYP3A4, và CYP2C19 mà không có tương tác thuốc có ý nghĩa lâm sàng (xem thêm phần Cảnh báo đặc biệt và thận trọng’).

Kháng sinh:

  • Phân tích nồng độ- thời gian cho thấy Regorafenib và các chất chuyển hóa của nó có thể trải qua tuần hoàn gan-ruột (xem phản “Các đặc tính dược động học”). Việc sử dụng đồng thời với kháng sinh mà có ảnh hưởng đến thần kinh thực vật đường tiêu hóa có thể gây cản trở cho tuần hoàn gan-ruột của Regorafenib và có thể dẫn đến giảm sự phơi nhiễm của regorafenib. Ý nghĩa lâm sàng của những tương tác tiềm tàng này là không rõ, nhưng có thể làm giảm hiệu quả của regorafenib.

Các thuốc gắn acid mật:

  • Regoratenib, M-2 và M-S có khả năng trải qua tuần hoàn ruột-gan (xem phần 5.2). Các thuốc gắn acid mật như cholestyramin và cholestagel có thể tương tác với regorafenib bằng cách hình thành phức hợp không hòa tan có thể ảnh hưởng đến sự hấp thu (hoặc tái hấp thu). Vì vậy, dẫn đến khả năng giảm sự phơi nhiễm. Ý nghĩa lâm sàng của những tương tác tiềm tàng này là không rõ, nhưng có thể dẫn đến giảm hiệu quả của regoratenib.

Lưu ý khi sử dụng (Cảnh báo và thận trọng)

Các tác dụng trên gan:

  • Những bất thường về xét nghiệm chức năng gan (alanine aminotransferase -ALT, aspartate aminetransferase -AST và bilirubin) thường được quan sát ở những bệnh nhân được điều trị với Regorafenib. Những bất thường nghiêm trọng về các xét nghiệm chức năng gan (mức độ 3 đến 4) và rối loạn chức năng gan với các biểu hiện lâm sàng (bao gồm cả tử vong) đã được báo cáo trên một tỷ lệ nhỏ các bệnh nhân.
  • Khuyến cáo thực hiện xét nghiệm chức năng gan (ALT. AST và bilirubin) trước khi bắt đầu điều trị Regorafenib và giám sát chặt chế (ít nhất 2 tuần/lần) trong vòng 2 tháng đầu điều trị. Sau đó, nên tiếp tục giám sát định kỳ ít nhất là hàng tháng và khi có chỉ định lâm sàng.
  • Regorafenib là một chất ức chế men uridine diphosphate glucuronosyl transferase UGTIA1 (xem phần Tương tác với các thuốc khác và các dạng tương tác khác). Tăng bilirubin gián tiếp (không liên hợp) nhẹ có thể xảy ra ở các bệnh nhân bị hội chứng Gilbert.
  • Đối với những bệnh nhân có xét nghiệm chức năng gan xấu đi có thể do điều trị bằng Regorafenib (ví dụ khi không có nguyên nhân nào khác rõ ràng như tắc mật sau gan hoặc tiến triển của bệnh). Cần tuân thủ việc điều chỉnh liều và những lời khuyên về giám sát trong Bảng 2 (xem phần ‘Liều dùng và cách dùng – mục Hiệu chỉnh liều).
  • Cần giám sát chặt chẽ về an toàn chung trên các bệnh nhân có suy gan nhẹ hoặc trung bình (xem phần “Liều dùng và cách dùng” – mục ‘Bệnh nhân suy gan” và ‘đặc điểm dược động học’). Regorafenib không được khuyến cáo sử dụng ở những bệnh nhân suy gan nặng (Child-Pugh C) vì Regorafenib chưa được nghiên cứu trong nhóm dân số này và sự phơi nhiễm có thể bị tăng lên ở những bệnh nhân này.

Bệnh nhân có khối u đột biến KRAS:

  • Ở những bệnh nhân có khối u đột biến KRAS. thời gian sóng bệnh không tiến triển (PES) được ghi nhận có cải thiện đáng kể và hiệu qua trên sống còn toàn bộ (QS) đã được ghi nhận là thấp hơn về mặt số lượng (xem phân “Các đặc tính được lực học”). Do độc tính liên quan đến điều trị là đáng kể. các bác sĩ nên đánh giá một cách cẩn thận lợi ích và rủi ro khi kê toa regorafenib ở bệnh nhân có khối u đột biến KRAS.

Xuất huyết:

  • Regorafenib có liên quan đến tăng tần suất các biến cố chảy máu, đôi khi gây tử vong. (xem phần ‘Tác dụng không mong muốn), Cần giảm sát số lượng các tế bào máu và các thông số đông máu trên những bệnh nhân có yếu tế nguy cơ chảy máu, và trên những bệnh nhân điều trị với các chất chống đông (như warfarin) hoặc dùng các sản phẩm điều trị đồng thời khác làm tăng nguy cơ chảy máu. Trong các trường hợp chảy máu cẩn can thiệp y tế khẩn cấp, nên cân nhắc ngừng hẳn Regorafenib.

Thiếu máu cục bộ và nhồi máu cơ tim:

  • Regorafenib có liên quan với sự gia tăng tần suất mắc mới bệnh tìm thiêu máu cục bộ và nhồi máu cơ tim (xem phần “Tác dụng không mong muốn”). Bệnh nhân đau thất ngực không ổn định hoặc cơn đau thắt ngực mới khởi phát (trong vòng 3 tháng bắt đầu điều trị Regorafenib), nhồi máu cơ tim gần đây (trong vòng 6 thắng bắt đâu điều trị Regorafenib) và bệnh nhân có phân độ suy tim NYHA IL hoặc cao hơn bị loại khỏi nghiên cứu lâm sàng
  • Bệnh nhân có tiền sử bệnh tim thiếu máu cục bộ cần được theo dõi các dấu hiệu và triệu chứng lâm sàng của bệnh tim thiếu máu cục bộ. Ở những bệnh nhân có bệnh tim thiếu máu cục bộ và/hoặc nhồi máu cơ tim tiến triển được khuyến cáo sử dụng ngắt quãng Regorafenib cho đến khi bệnh được giải quyết. Quyết định tải điều trị Regorafenib phải dựa trên xem xét cẩn thận những lợi ích và rủi ro tiềm tàng của từng bệnh nhân. Nên chấm dứt điều trị Regorafenib nếu không có hướng giải quyết.

Hội chứng bệnh lý chất trắng não có hồi phục (Reversible Posterior Leukoencephalopathy Syndrome):

  • Hội chứng bệnh lý chất trắng não có hồi phục (Reversible Posterior Leukoencephalopathy Syndrome -RPLS) đã được báo cáo có liên quan với việc điều trị Regorafenib (xem phần “ Tác dụng không mong muốn”. Các dấu hiệu và triệu chứng của RPLS bao gồm co giật, đau đầu, tình trạng rối loạn tâm thân, rối loạn thị giác hoặc mù vỏ não, có hoặc không có kèm theo tăng huyết áp. Chẩn đoán xác định RPLS cần chụp ảnh não. Ở những bệnh nhân xuất hiện RPLS, ngừng sử dụng Regorafenib, cùng với kiểm soát tăng huyết áp và điều trị hỗ trợ các triệu chứng khác. Chưa rõ tính an toàn của việc bắt đầu sử dụng lại liệu pháp Regorafenib ở những bệnh nhân trước đó trải qua RPLS.

Thủng và rò đường tiêu hóa:

  • Thủng và rò đường tiêu hóa đã được báo cáo ở những bệnh nhân được điều trị với Regorafenib. Những sự cố này cũng được biết là các biến chứng thường gặp liên quan đến bệnh ở những bệnh nhân có khối u ác tính trong ổ bụng. Cần ngừng Regorafenib ở những bệnh nhân bị thủng hoặc có lỗ rò đường tiêu hóa. Chưa biết về tính an toàn của việc bắt đầu sử dụng lại Regorafenib sau khi bị thủng hoặc rò đường tiêu hóa.

Tăng huyết áp động mạch:

  • Regorafenib có liên quan với tăng, tần suất mắc tăng huyết áp động mạch (xem phần Tác dụng không mong muốn”). Cần kiểm soát huyết áp trước khi bắt đầu điều trị với Regorafenib. Khuyến cáo theo dõi huyết áp và điều trị tăng huyết áp theo hướng dẫn điều trị chuẩn. Trong trường hợp tăng huyết áp nặng hay kéo dài cho đủ đã điều trị đầy đủ, nên tạm ngừng Regorafenib và/hoặc giảm liều theo quyết định của bác sĩ điều trị (xem phần *Liều lượng và cách dùng’ – mục “Hiệu chỉnh liều). Trong trường hợp của tăng huyết áp kịch phát, nên ngừng sử dụng Regorafenib.

Các biến chứng trên việc làm lành vết thương:

  • Không có nghiên cứu chính thức được thực hiện về tác dụng của Regorafenib trên việc làm lành vết thương. Tuy nhiên do các sản phẩm điều trị có đặc tính chống tạo mạch có thể ức chế hoặc ảnh hưởng đến sự làm lành vết thương, khuyến cáo tạm thời ngừng Regorafenib vì lý do thận trọng ở những bệnh nhân phải có phẫu thuật lớn. Kinh nghiệm lam sang về thời gian bắt đầu lại điều trị sau can thiệp phẫu thuật lớn còn hạn chế. Vì vậy, quyết định tiếp tục điều trị Regorafenib sau một can thiệp phẫu thuật lớn cần phải dựa trên đánh giá lâm sàng về tình trạng lành của vết thương.

Độc tính trên da:

  • Phản ứng da lòng bàn tay- bàn chân (HFSR / palmar-plantar erythrodysesthesia syndrome) và phát ban là các phản ứng có hại trên da thường gặp nhất của Regorafenib (xem phần “Tác dụng không mong muốn”). Các biện pháp phòng ngừa HFSR bao gồm điều trị các vết chai và sử dụng đệm giày và găng tay để ngăn chặn áp lực ấn mạnh lên gan bàn chân và lòng bàn tay. Điều trị HFSR có thể bao gồm việc sử dụng các loại kem có tác dụng tiêu sừng (ví dụ như kem có urê, salicylic acid hoặc alpha hydroxyl acid-được bôi một cách vừa đủ chỉ trên các khu vực bị ảnh hưởng) và các loại kem dưỡng ẩm (được bôi rộng) để làm giảm triệu chứng. Giảm liều và / hoặc ngừng tạm thời Regorafenib hoặc trong các trường hợp nặng hay kéo dài, cần cân nhắc ngừng lâu dài Regorafenib.

Các bất thường về xét nghiệm sinh hóa và chuyển hóa:

  • Regorafenib có liên quan đến tăng tần suất có bất thường về điện giải (bao gồm hạ phosphate máu, hạ calci máu, hạ natri máu và hạ kali máu) và các bất thường về chuyển hóa (bao gồm cả tăng hoóc môn kích thích tuyến giáp, lipase và amylase). Những bất thường nói chung là từ nhẹ đến trung bình. không liên quan đến biểu hiện lâm sàng. và thường không cần tạm ngừng thuốc hoặc giảm liều. Khuyến cáo cần giám sát các thông số sinh hóa và chuyển hóa trong quá trình điều trị Regorafenib và áp dụng các biện pháp điều trị thay thế phù hợp với các hướng dẫn thực hành lâm sàng nếu cần. Tạm ngừng hoặc giảm liều hoặc ngưng vĩnh viễn Regorafenib cần được xem xét trong trường hợp bất thường đáng kể kéo dài hoặc tái phát.

Phụ nữ mang thai và cho con bú

  • Phụ nữ mang thai: Không có dữ liệu về việc sử dụng của regorafenib ở phụ nữ mang thai. Dựa trên cơ chế tác dụng, regorafenib bị nghi ngờ gây ra tổn hại cho thai khi dùng trong thời gian mang thai. Các nghiên cứu trên động vật đã cho thấy có độc tính trên sinh sản (xem dữ liệu ‘Dữ liệu an toàn tiền lâm sàng’). Không nên sử dụng Regorafenib trong thời kỳ mang thai, trừ khi rõ ràng là cần thiết và sau khi xem xét cẩn thận những lợi ích cho mẹ và nguy cơ cho thai nhi.
  • Phụ nữ cho con bú: Chưa biết liệu regorafenib/chất chuyển hóa có được bài tiết trong sữa mẹ hay không. Ở chuột, regorafenib/chất chuyển hóa được bài tiết qua sữa. Không thể loại trừ nguy cơ cho trẻ bú mẹ. Regorafenib có thể gây hại cho sự tăng trưởng và phát triểncủa trẻ em (xem dữ liệu ‘Dữ liệu an toàn tiền lâm sàng’), Phải ngừng cho con bú trong thời gian điều trị với Regorafenib.
  • Khả năng sinh sản: Không có dữ liệu về tác dụng của Regorafenib trên khả năng sinh sản ở người. Kết quả nghiên cứu trên động vật cho thấy regorafenib có thể làm giảm khả năng sinh sản của động vật đực và cái.

Người lái xe và vận hành máy móc

  • Không có nghiên cứu về những ảnh hưởng của Regorafenib trên khả năng lái xe hoặc sử dụng máy móc. Nếu bệnh nhân có các triệu chứng ảnh hướng đến khả năng tập trung và phản ứng khi điều trị với Regorafenib, họ không được lái xe hay vận hành máy móc cho đến khi các ảnh hưởng giảm bớt.

Bảo quản

  • Nơi mát, tránh ánh sáng, nhiệt độ dưới 30⁰C.
Xem thêm nội dung
Bình luận của bạn
Đánh giá của bạn:
*
*
*
 Captcha

Tại sao chọn chúng tôi

8 Triệu +

Chăm sóc hơn 8 triệu khách hàng Việt Nam.

2 Triệu +

Đã giao hơn 2 triệu đơn hàng đi toàn quốc

18.000 +

Đa dạng thuốc, thực phẩm bổ sung, dược mỹ phẩm.

100 +

Hơn 100 điểm bán và hệ thống liên kết trên toàn quốc

NHÀ THUỐC HOÀNG CHINH

  • 345 Nguyễn Văn Công, Phường Hạnh Thông, TP.HCM

CSKH: 0906948089
Email: cskh@nhathuochoangchinh.vn
Website: www.nhathuochoangchinh.vn

Nhà Thuốc Hoàng Chinh –  Tel: 0906948089 (8h00 – 21h00)

Thiết kế website Webso.vn