Breztri Aerosphere 160/7.2/5mcg Astra Zeneca 120 liều (Budesonid Glycopyrrolate Formoterol)

* Hình sản phẩm có thể thay đổi theo thời gian
** Giá sản phẩm có thể thay đổi tuỳ thời điểm

30 ngày trả hàng Xem thêm

 Các sản phẩm được đóng gói và bảo quản an toàn.

#25981
Breztri Aerosphere 160/7.2/5mcg Astra Zeneca 120 liều (Budesonid + Glycopyrrolate + Formoterol)
5.0/5

Số đăng ký: 300110445423

Cách tra cứu số đăng ký thuốc được cấp phép

Tìm thuốc Budesonid/Glycopyrrolate/Formoterol khác

Tìm thuốc cùng thương hiệu AstraZeneca khác

Thuốc này được bán theo đơn của bác sĩ

Gửi đơn thuốc
Nhà sản xuất

AstraZeneca Pharmaceuticals

NSX

Thông tin sản phẩm

Số đăng ký: 300110445423
Hoạt chất:
Quy cách đóng gói:
Thương hiệu:
Xuất xứ:
Thuốc cần kê toa:
Dạng bào chế:
Hàm Lượng:
Nhà sản xuất:
Tiêu chuẩn:

Nội dung sản phẩm

Thành phần

Breztri Aerosphere 160/7.2/5mcg Astra Zeneca 120 liều

Công dụng (Chỉ định)

  • Breztri Aerosphere được chỉ định để điều trị duy trì bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD).
  • Hạn chế sử dụng: Breztri Aerosphere không được chỉ định để giảm co thắt phế quản cấp tính hoặc điều trị hen phế quản.

Liều dùng

  • Liều Breztri Aerosphere khuyến cáo là budesonid 320 mcg, glycopyrrolat 18 mcg và formoterol fumarat 9,6 mcg (tương ứng 2 hít Breztri Aerosphere [budesonid/glycopyrrolat/formoterol fumarat 160 mcg/9 mcg/4,8 mcg]) hai lần mỗi ngày, vào buổi sáng và tối qua đường hít bằng miệng. Không sử dụng nhiều hơn hai hít hai lần mỗi ngày.
  • Súc miệng bằng nước sau khi hít thuốc nhưng không nuốt.

Cách dùng

Chuẩn bị:

  • Khởi động bình xịt Breztri Aerosphere trước khi sử dụng lần đầu tiên. Khởi động bình xịt là cần thiết để đảm bảo lượng thuốc thích hợp ở mỗi liều xịt. Khởi động bình xịt Breztri Aerosphere bằng cách xịt 4 lần vào vùng không khí cách xa mặt, lắc kỹ trước mỗi lần xịt thuốc.
  • Nếu bình xịt không được dùng trong hơn 7 ngày, bình xịt bị rơi hoặc sau khi rửa sạch hàng tuần, khởi động lại bình xịt bằng cách xịt 2 lần vào không khí cách xa mặt, lắc kỹ trước mỗi lần xịt thuốc.

Bộ phận đếm liều thuốc:

  • Bình chứa thuốc Breztri Aerosphere có kèm theo bộ phận xác định liều, cho biết số lượng liều xịt còn lại sau mỗi lần sử dụng. Màn hình báo liều dùng có một vạch chỉ thị liều sẽ dịch chuyển sau mỗi lần xịt. Khi vạch chỉ thị liều nằm trong vùng vàng tức là đã gần hết số liều thuốc có thể sử dụng. Không sử dụng Breztri Aerosphere khi vạch chỉ thị liều đã nằm ở vị trí vạch 0 trong vùng màu đỏ.

Quá liều

Chưa có báo cáo về quá liều khi sử dụng Breztri Aerosphere. Breztri Aerosphere chứa budesonid, glycopyrrolat và formoterol fumarat; do đó, các nguy cơ liên quan đến quá liều đối với từng thành phần riêng lẻ được mô tả dưới đây áp dụng cho Breztri Aerosphere. Các biện pháp xử trí quá liều bao gồm ngừng Breztri Aerosphere phối hợp với điều trị triệu chứng và/hoặc điều trị hỗ trợ phù hợp. Có thể cân nhắc sử dụng thuốc chẹn thụ thể beta chọn lọc trên tim nhưng cần lưu ý rằng thuốc này có thể gây co thắt phế quản. Ảnh hưởng trên tim mạch cần được theo dõi trong trường hợp quá liều.

Budesonid:

  • Nếu sử dụng liều quá cao kéo dài, có thể xảy ra các tác dụng toàn thân của corticosteroid, như cường vỏ thượng thận.

Glycopyrrolat:

  • Liều cao glycopyrrolat, một thành phần của Breztri Aerosphere, có thể dẫn đến các dấu hiệu và triệu chứng kháng cholinergic như buồn nôn, nôn, chóng mặt, choáng váng, nhìn mờ, tăng nhãn áp (gây đau, rối loạn thị lực hoặc đỏ mắt), táo bón nặng hoặc bí tiểu.

Formoterol fumarat:

  • Quá liều formoterol fumarat có thể dẫn đến các phản ứng quá mức điển hình đối với thuốc chủ vận beta2: Co giật, đau thắt ngực, tăng huyết áp, hạ huyết áp, nhịp tim nhanh, loạn nhịp nhanh nhĩ và thất, căng thẳng, đau đầu, run, đánh trống ngực, chuột rút, buồn nôn, chóng mặt, rối loạn giấc ngủ, toan chuyển hóa, tăng đường huyết, hạ kali máu. Tương tự như tất cả các thuốc cường giao cảm, ngừng tim và thậm chí tử vong có thể liên quan đến việc sử dụng quá liều formoterol fumarat.

Không sử dụng trong trường hợp sau (Chống chỉ định)

  • Chống chỉ định dùng Breztri Aerosphere ở những bệnh nhân mẫn cảm với budesonid, glycopyrrolat, formoterol hoặc bất kỳ tá dược nào.

Tác dụng không mong muốn (Tác dụng phụ)

Dữ liệu tính an toàn liên quan đến các tác dụng của nhóm corticosteroid, tác dụng kháng cholinergic và kích thích β2-adrenergic liên quan đến các thành phần riêng lẻ trong phối hợp. Các tác dụng ngoại ý được báo cáo phổ biến nhất ở bệnh nhân dùng thuốc này là viêm phổi (4,6%), đau đầu (2,7%) và nhiễm trùng đường tiết niệu (2,7%).

Bảng danh sách các tác dụng ngoại ý:

Danh sách các tác dụng ngoại ý trong bảng căn cứ trên dữ liệu về sản phẩm từ các thử nghiệm lâm sàng và từ các nghiên cứu trên các thành phần riêng lẻ.

Tần suất của các tác dụng được xác định theo quy ước sau: Rất thường gặp (≥1/10); thường gặp (≥1/100 đến <1/10); ít gặp (21/1000 đến <1/100); hiếm gặp (≥1/10000 đến <1/1.000); rất hiếm gặp (<1/10000) và chưa biết (chưa ước lượng được dựa vào dữ liệu có sẵn).

Hệ cơ quan Tác dụng ngoại ý Tần suất
Nhiễm khuẩn và loạn khuẩn Nhiễm nấm Candida vùng miệng

Viêm phổi

Thường gặp
Rối loạn hệ miễn dịch Quá mẫn Ít gặp
Phù mạch Chưa biết
Rối loạn nội tiết Các dấu hiệu hoặc triệu chứng của tác dụng glucorticoid toàn thân, ví dụ: Suy tuyến thượng thận Rất hiếm gặp
Rối loạn chuyển hóa và dinh dưỡng Tăng đường huyết Thường gặp
Rối loạn tâm thần Lo lắng

Mất ngủ

Thường gặp
Trầm cảm

Kích động

Bồn chồn

Lo lắng

Ít gặp
Rối loạn hành vi Rất hiếm gặp
Rối loạn hệ thần kinh Đau đầu Thường gặp
Chóng mặt

Run rẩy

Ít gặp
Rối loạn thị giác Nhìn mờ

Đục thủy tinh thể

Glaucom

Chưa biết
Rối loạn hệ tim mạch Đánh trống ngực Thường gặp
Cơn đau thắt ngực

Nhịp tim nhanh

Loạn nhịp tim (rung nhĩ, nhịp nhanh trên thất và ngoại tâm thu)

Ít gặp
Rối loạn hệ hô hấp, lồng ngực và trung thất Khàn tiếng

Ho

Thường gặp
Viêm họng

Co thắt phế quản

Ít gặp
Rối loạn hệ tiêu hóa Buồn nôn Thường gặp
Khô miệng Ít gặp
Rối loạn da và mô dưới da Bầm tím Ít gặp
Rối loạn cơ xương và mô liên kết Chuột rút Thường gặp
Rối loạn hệ thận – tiết niệu Nhiễm trùng đường tiết niệu Thường gặp
Bí tiểu Ít gặp
Các rối loạn chung và tại vị trí dùng thuốc Đau ngực Ít gặp

Đã có báo cáo về nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới, bao gồm cả viêm phổi sau khi sử dụng corticosteroid dạng hít.

Tương tác với các thuốc khác

Chưa có nghiên cứu chính thức nào về tương tác thuốc thực hiện trên Breztri Aerosphere.

Thuốc ức chế Cytochrom P450 3A4:

  • Con đường chuyển hóa chính của các corticosteroid, bao gồm cả budesonid – một thành phần của Breztri Aerosphere, là thông qua Cytochrom P450 isoenzym 3A4 (CYP3A4). Sau khi sử dụng ketoconazol đường uống, một thuốc ức chế CYP3A4 mạnh, nồng độ budesonid trung bình trong huyết tương sau khi dùng theo đường uống tăng lên. Sử dụng đồng thời với thuốc ức chế CYP3A4 có thể gây ức chế chuyển hóa và làm tăng nồng độ budesonid trong cơ thể. Cần thận trọng khi sử dụng đồng thời Breztri Aerosphere với ketoconazol và các thuốc ức chế CYP3A4 mạnh khác (ví dụ: Ritonavir, atazanavir, clarithromycin, indinavir, itraconazol, nefazodon, nelfinavir, saquinavir, telithromycin).

Thuốc kích thích hệ adrenergic:

  • Thận trọng khi bổ sung các thuốc kích thích hệ adrenergic theo bất kỳ đường dùng nào do tác dụng cường giao cảm của formoterol, một thành phần của Breztri Aerosphere, có thể tăng lên.

Dẫn xuất xanthin, steroid hoặc thuốc lợi tiểu:

  • Sử dụng đồng thời với các dẫn xuất xanthin, steroid hoặc thuốc lợi tiểu có thể làm tăng tác dụng hạ kali máu của các thuốc chủ vận beta2-adrenergic như formoterol, một thành phần của Breztri Aerosphere.

Thuốc lợi tiểu không giữ kali:

  • Tác dụng hạ kali máu và/hoặc thay đổi điện tâm đồ do dùng thuốc lợi tiểu không giữ kali (như thuốc lợi tiểu quai hoặc lợi tiểu nhóm thiazid) có thể trở nên trầm trọng khi dùng đồng thời thuốc chủ vận beta, đặc biệt khi sử dụng thuốc chủ vận betavượt quá liều khuyến cáo.

Thuốc ức chế monoamine oxidase, thuốc chống trầm cảm ba vòng, thuốc kéo dài QTc:

  • Tương tự các thuốc chủ vận beta2 khác, nên đặc biệt thận trọng khi dùng Breztri Aerosphere cho bệnh nhân đang điều trị bằng các thuốc ức chế monoamine oxidase hoặc thuốc chống trầm cảm ba vòng hoặc các thuốc kéo dài khoảng QTc do tác dụng của thuốc chủ vận adrenergic trên hệ tim mạch có thể bị tăng lên bởi các thuốc này. Thuốc gây kéo dài khoảng QTc có thể làm tăng nguy cơ loạn nhịp thất.

Thuốc chẹn thụ thể beta-adrenergic:

  • Thuốc đối kháng thụ thể beta-adrenergic (thuốc chẹn beta) và Breztri Aerosphere có thể cản trở tác dụng của nhau khi sử dụng đồng thời. Thuốc chẹn beta không chỉ ngăn chặn tác dụng điều trị của thuốc chủ vận beta, mà còn có thể gây co thắt phế quản nghiêm trọng ở bệnh nhân COPD. Do đó bệnh nhân COPD thông thường không nên sử dụng thuốc chẹn beta. Tuy nhiên, trong một số trường hợp nhất định, như dự phòng sau nhồi máu cơ tim, chưa có lựa chọn thay thế nào khác thay cho thuốc chẹn beta ở bệnh nhân COPD. Trong tình huống này, có thể cân nhắc lựa chọn các thuốc chẹn beta tác dụng chọn lọc trên tim và cần được sử dụng thận trọng.

Thuốc kháng cholinergic:

  • Có khả năng xảy ra tương tác hiệp đồng khi sử dụng đồng thời các thuốc kháng cholinergic. Do đó, tránh dùng đồng thời Breztri Aerosphere với các thuốc khác cũng chứa thành phần có tác dụng kháng cholinergic, do có thể dẫn đến gia tăng tác dụng ngoại ý.

Lưu ý khi sử dụng (Cảnh báo và thận trọng)

Biến cố nghiêm trọng liên quan đến hen phế quản – nhập viện, đặt nội khí quản, tử vong:

  • Tính an toàn và hiệu quả của Breztri Aerosphere trên bệnh nhân hen phế quản vẫn chưa được xác định. Breztri Aerosphere không được chỉ định để điều trị hen phế quản.
  • Sử dụng đơn độc thuốc chủ vận beta-adrenergic tác dụng kéo dài (LABA) (không phối hợp với corticosteroid dạng hít (ICS)] trên bệnh nhân hen phế quản có liên quan đến tăng nguy cơ tử vong do hen. Dữ liệu hiện có từ các thử nghiệm lâm sàng có đối chứng cũng cho thấy việc sử dụng LABA đơn độc làm tăng nguy cơ nhập viện do hen phế quản ở trẻ em và thanh thiếu niên. Những tác động này được xem là chung cho cả nhóm LABA khi sử dụng đơn độc. Khi sử dụng liều có định LABA kết hợp với ICS, dữ liệu từ các thử nghiệm lâm sàng lớn không cho thấy sự tăng đáng kể nguy cơ xảy ra các biến cố nghiêm trọng liên quan đến hen phế quản (nhập viện, đặt nội khí quản, tử vong) so với ICS đơn trị.
  • Dữ liệu hiện có chưa cho thấy nguy cơ tử vong tăng lên khi sử dụng LABA trên bệnh nhân COPD.

Diễn tiến nặng của bệnh và các đợt cấp tính:

  • Không nên khởi đầu điều trị với Breztri Aerosphere ở những bệnh nhân mắc COPD diễn tiến nặng có thể dẫn tới đe dọa tính mạng. Chưa có nghiên cứu nào về Breztri Aerosphere trên nhóm bệnh nhân mắc COPD diễn tiến nặng. Do đó, việc sử dụng Breztri Aerosphere trong trường hợp này là không phù hợp.
  • Breztri Aerosphere không nên được sử dụng để làm giảm các triệu chứng cấp tính, vi dụ điều trị cắt cơn co thắt phế quản cấp. Chưa có nghiên cứu về việc giảm các triệu chứng cấp tinh khi dùng Breztri Aerosphere và không nên sử dụng thêm liều cho chỉ định trên. Các triệu chứng cấp tính nên được điều trị bằng thuốc chủ vận beta, tác dụng ngắn dạng hít.
  • Khi bắt đầu điều trị bằng Breztri Aerosphere, những bệnh nhân đang sử dụng thuốc chủ vận beta, tác dụng ngắn dạng hít thường xuyên (ví dụ: Bốn lần/ngày) nên được hướng dẫn ngừng sử dụng thường xuyên các loại thuốc này và chỉ sử dụng chúng để giảm triệu chứng hô hấp cấp tính. Khi kê đơn Breztri Aerosphere, nhân viên y tế cũng nên kê đơn thuốc chủ vận beta, tác dụng ngắn dạng hít và hướng dẫn bệnh nhân cách sử dụng. Việc tăng tần suất sử dụng thuốc chủ vận beta, dạng hít cho thấy bệnh có thể đang diễn tiến nghiêm trọng hơn và cần được chăm sóc y tế kịp thời.
  • COPD có thể diễn tiến cấp tính trong một vài giờ hoặc chuyển thành mạn tính trong vài ngày hoặc lâu hơn. Nếu việc sử dụng Breztri Aerosphere không còn kiểm soát được các triệu chứng hoặc thuốc chủ vận beta, tác dụng ngắn dạng hít trở nên kém hiệu quả hoặc bệnh nhân cần hít nhiều thuốc chủ vận beta, tác dụng ngắn hơn bình thường, thì đây có thể là những dấu hiệu cho thấy tình trạng bệnh xấu đi. Trong trường hợp này, cần đánh giá lại tình trạng của bệnh nhân đồng thời với phác đồ điều trị COPD. Không nên tăng liều hàng ngày của Breztri Aerosphere vượt quá liều khuyến cáo.

Tránh dùng quá liều Breztri Aerosphere và tránh kết hợp với các thuốc chủ vận beta2 tác dụng kéo dài khác:

  • Tương tự như các loại thuốc hít có chứa thành phần beta-adrenergic khác, không nên sử dụng Breztri Aerosphere thường xuyên hơn tần suất được khuyến cáo, không nên dùng liều cao hơn khuyến cáo, hoặc kết hợp với các thuốc khác có chứa LABA, do có thể gây quá liều. Đã có báo cáo về các tác dụng không mong muốn trên tim mạch có ý nghĩa trên lâm sàng và tử vong liên quan đến việc sử dụng quá nhiều thuốc cường giao cảm dạng hít. Bệnh nhân đang sử dụng Breztri Aerosphere không nên sử dụng một loại thuốc khác có chứa LABA (ví dụ: Salmeterol, formoterol fumarat, arformoterol tartrat, indacaterol) vì bất kỳ lý do gì.

Nhiễm nấm Candida hầu họng:

  • Breztri Aerosphere có chứa budesonid, một ICS. Nhiễm Candida albicans tại chỗ ở khoang miệng và hầu họng đã xảy ra ở những bệnh nhân được điều trị bằng thuốc hít qua đường miệng có chứa budesonid. Khi nhiễm nấm, bệnh nhân nên được điều trị bằng thuốc kháng nấm tại chỗ hoặc toàn thân (cụ thể là đường uống) trong khi vẫn tiếp tục sử dụng Breztri Aerosphere.
  • Trong một số trường hợp, cần tạm ngưng sử dụng Breztri Aerosphere. Tư vấn bệnh nhân súc miệng bằng nước nhưng không nuốt sau khi dùng Breztri Aerosphere để giúp giảm nguy cơ nhiễm nấm Candida hầu họng.

Viêm phổi:

  • Đã có báo cáo về nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới, trong đó có viêm phổi, sau khi sử dụng corticosteroid dạng hít. Các bác sĩ nên cảnh giác với sự phát triển viêm phổi có thể xảy ra ở bệnh nhân COPD do các đặc điểm lâm sàng của viêm phổi và các cơn kịch phát thường trùng lặp với nhau.
  • Trong một thử nghiệm kéo dài 52 tuần trên các bệnh nhân mắc COPD (n = 8529), tỷ lệ mắc mới viêm phổi được xác nhận là 4,2% ở nhóm Breztri Aerosphere 320 mcg/18 mcg/9,6 mcg (n = 2144), 3,5% đối với budesonid, glycopyrrolat và formoterol fumarat [BGF MDI 160 mcg/18 mcg/9,6 mcg] (n = 2124), 2,3% đối với GFF MDI 18 mcg /9,6 mcg (n = 2125) và 4,5% đối với BFF MDI 320 mcg/9,6 mcg (n = 2136).
  • Các trường hợp tử vong do viêm phổi xảy ra ở 2 bệnh nhân dùng BGF MDI 160 mcg/18 mcg/9,6 mcg, 3 bệnh nhân dùng GFF MDI 18 mcg/9,6 mcg và không có trường hợp nào với bệnh nhân dùng Breztri Aerosphere 320 mcg/18 mcg/9,6 mcg.
  • Trong một thử nghiệm kéo dài 24 tuần trên các bệnh nhân mắc COPD (n = 1896), tỷ lệ mắc mới viêm phổi được xác nhận là 1,9% đối với Breztri Aerosphere 320 mcg/18 mcg/9,6 mcg (n = 639), 1,6% đối với glycopyrrolat và formoterol fumarat [GFF MDI 18 mcg/9,6 mcg] (n = 625) và 1,9% đối với budesonid và formoterol fumarat (BFF MDI 320 mcg/9,6 mcg] (n = 320). Không có trường hợp tử vong do viêm phổi trong nghiên cứu.

Ức chế miễn dịch và nguy cơ nhiễm khuẩn:

  • Bệnh nhân đang sử dụng thuốc ức chế miễn dịch có thể dễ bị nhiễm khuẩn hơn những người khỏe mạnh. Ví dụ, thủy đậu và bệnh sởi có thể có diễn tiến nghiêm trọng hơn hoặc thậm chí gây tử vong ở trẻ em hoặc người lớn mẫn cảm khi sử dụng corticosteroid. Ở những trẻ em hoặc người lớn chưa từng mắc các bệnh này hoặc chưa được tiêm phòng đầy đủ, cần đặc biệt lưu ý để tránh phơi nhiễm. Chưa xác định được ảnh hưởng của liều lượng, đường dùng và thời gian dùng thuốc đến nguy cơ khởi phát một đợt nhiễm trùng lan tỏa. Bệnh lý nền và/hoặc việc sử dụng corticosteroid trước đó có ảnh hưởng như thế nào đến nguy cơ cũng chưa được làm sáng tỏ. Nếu bệnh nhân bị phơi nhiễm thủy đậu, có thể chỉ định điều trị dự phòng bằng immunoglobulin varicella zoster (VZIG). Nếu bị phơi nhiễm sởi, có thể chỉ định điều trị dự phòng bảng immunoglobulin (IG) tiêm bắp (xem tờ hướng dẫn sử dụng tương ứng để biết đầy đủ thông tin kê đơn của VZIG và IG). Nếu xuất hiện thủy đậu, có thể cân nhắc điều trị bằng thuốc kháng vi rút.
  • ICS cần được sử dụng thận trọng ở những bệnh nhân mắc bệnh lao phổi thể tiến triển hoặc tiềm ẩn; nhiễm nấm, vi khuẩn, vi rút hoặc ký sinh trùng toàn thân không được điều trị; hoặc nhiễm herpes simplex ở mắt.
  • Chuyển đổi thuốc cho bệnh nhân đang dùng corticoid tác dụng toàn thân:

Ức chế trục HPA/Suy thượng thận:

  • Cần đặc biệt chú ý đến những bệnh nhân chuyển từ corticosteroid tác dụng toàn thân sang ICS do các trường hợp tử vong do suy thượng thận đã xảy ra ở bệnh nhân trong và sau khi chuyển từ corticosteroid toàn thân sang ICS có tác dụng toàn thân ít hơn. Sau khi ngừng sử dụng corticosteroid toàn thân, cần một vài tháng để phục hồi chức năng vùng dưới đồi-tuyến yên-thượng thận (HPA).
  • Những bệnh nhân trước đó được điều trị duy trì dùng prednison từ 20 mg trở lên hàng ngày (hoặc hàm lượng tương đương) có nguy cơ cao nhất, đặc biệt khi bệnh nhân đã ngừng corticosteroid tác dụng toàn thân gần như hoàn toàn. Trong thời gian trục HPA bị ức chế, bệnh nhân có thể xuất hiện các dấu hiệu và triệu chứng của suy thượng thận khi bị chấn thương, phẫu thuật hoặc nhiễm khuẩn (đặc biệt là viêm dạ dày ruột) hoặc các tình trạng khác liên quan đến mất điện giải nghiêm trọng.
  • Mặc dù Breztri Aerosphere có thể giúp kiểm soát các triệu chứng COPD nhưng ở liều khuyến cáo thuốc tạo ra lượng glucocorticoid toàn thân ít hơn so với lượng sinh lý bình thưởng và không cung cấp lượng mineralocorticoid có hoạt tính cần thiết để ứng phó với những trường hợp cấp tính trên.
  • Trong trường hợp stress hoặc cơn kịch phát COPD nặng, cần hướng dẫn bệnh nhân đã ngừng sử dụng corticosteroid tác dụng toàn thân dùng lại corticosteroid đường uống (với liều lớn) ngay lập tức và liên hệ với bác sĩ để được hướng dẫn thêm.
  • Những bệnh nhân này cũng nên được hướng dẫn mang theo một thẻ cảnh báo về việc họ cần bổ sung corticosteroid toàn thân trong thời gian stress hoặc các cơn kịch phát COPD nặng.
  • Bệnh nhân cần dùng corticosteroid đường uống nên giảm dần việc sử dụng corticosteroid toàn thân, sau khi chuyển sang Breztri Aerosphere. Giảm dần prednison bằng cách giảm liều hàng ngày của prednison xuống 2,5 mg trong 1 tuần trong khi vẫn đang điều trị bằng Breztri Aerosphere. Chức năng phổi (thể tích thở ra gắng sức trong giây đầu tiên [FEV ] hoặc lưu lượng đỉnh thở ra buổi sáng (PEF)), việc sử dụng thuốc chủ vận bêta và các triệu chứng COPD nên được theo dõi cần thận trong thời gian ngừng sử dụng corticosteroid đường uống. Ngoài ra, bệnh nhân cần được theo dõi các dấu hiệu và triệu chứng của suy thượng thận, như mệt mỏi, uể oải, suy nhược, buồn nôn và nôn, hạ huyết áp.

Tái phát tình trạng dị ứng trước đó đã được kiểm soát bởi corticosteroid toàn thân:

  • Bệnh nhân chuyển từ corticosteroid toàn thân sang Breztri Aerosphere có thể tái phát tình trạng dị ứng trước đó đã được kiểm soát bởi corticosteroid toàn thân (ví dụ: Viêm mũi, viêm kết mạc, eczema, viêm khớp, tình trạng tăng bạch cầu ái toan).

Hội chứng cai corticosteroid:

  • Một số bệnh nhân có thể xuất hiện các triệu chứng cai corticosteroid toàn thân trong thời gian ngừng sử dụng corticosteroid đường uống (như đau cơ và/hoặc khớp, mệt mỏi, trầm cảm), mặc dù chức năng hô hấp của bệnh nhân đã được duy trì hoặc thậm chí cải thiện.

Hội chứng cường và ức chế thượng thận:

  • Budesonid dạng hít được hấp thu vào tuần hoàn chung và có thể gây tác dụng toàn thân. Tác dụng của budesonid trên trục HPA chưa được quan sát thấy khi dùng với liều điều trị của budesonid trong Breztri Aerosphere. Tuy nhiên, vượt quá liều khuyến cáo hoặc phối hợp với chất ức chế Cytochrom P450 3A4 (CYP3A4) mạnh có thể dẫn đến rối loạn chức năng trục HPA.
  • Do ICS được hấp thu đáng kể vào tuần hoàn chung nên bệnh nhân điều trị bằng Breztri Aerosphere cần được theo dõi chặt chẽ bất kỳ bằng chứng nào về tác dụng toàn thân của corticosteroid. Cần đặc biệt thận trọng theo dõi các dấu hiệu cho thấy tuyến thượng thận không đáp ứng đầy đủ ở bệnh nhân sau phẫu thuật hoặc trong giai đoạn stress.
  • Các tác dụng toàn thân của corticosteroid, như cường vỏ thượng thận và ức chế tuyến thượng thận (bao gồm cả cơn suy thượng thận đột ngột) có thể xuất hiện ở một số ít bệnh nhân nhạy cảm với các tác dụng này. Nếu những tác dụng trên xảy ra, cần có biện pháp xử trí phù hợp trong trường hợp cần thiết.

Tương tác thuốc với thuốc ức chế Cytochrom P450 3A4 mạnh:

  • Thận trọng khi phối hợp Breztri Aerosphere lâu dài với ketoconazol và các thuốc ức chế CYP3A4 mạnh khác (như ritonavir, atazanavir, clarithromycin, indinavir, itraconazol, nefazodon, nelfinavir, saquinavir, telithromycin) do có thể xảy ra tác dụng bất lợi liên quan đến sự tăng nồng độ budesonid toàn thân.

Co thắt phế quản nghịch thường:

  • Cũng như các trị liệu đường hát khác khác, Breztri Aerosphere có thể gây co thắt phế quản nghịch thường, có thể đe dọa tính mạng. Nếu xảy ra tình trạng này sau khi dùng Breztri Aerosphere, bệnh nhân cần điều trị ngay bằng thuốc giãn phế quản tác dụng ngắn, dạng hit; ngừng ngay Breztri Aerosphere và sử dụng thuốc khác thay thế.

Phản ứng quá mẫn bao gồm sốc phản vệ:

  • Đã có báo cáo phản ứng quá mẫn cấp tinh xảy ra sau khi dùng budesonid, glycopyrrolat hoặc formoterol fumarat – các thành phần của Breztri Aerosphere. Nếu xảy ra các dấu hiệu của phản ứng dị ứng, đặc biệt, phù mạch (bao gồm khó thở hoặc khó nuốt, sưng lưỡi, môi và mặt), mày đay hoặc phát ban, nên ngừng ngay Breztri Aerosphere và cân nhắc thuốc thay thế.

Tác dụng trên tim mạch:

  • Giống như các thuốc chủ vận beta2 khác, formoterol fumarat có thể gây ra các ảnh hưởng trên tim mạch có ý nghĩa trên lâm sàng ở một số bệnh nhân bao gồm gây tăng nhịp tim, huyết áp tâm thu hoặc tâm trương, loạn nhịp tim, như nhịp nhanh trên thất và ngoại tâm thu.
  • Nếu xuất hiện những tác dụng ngoại ý trên, có thể ngưng dùng Breztri Aerosphere. Ngoài ra, các thuốc chủ vận beta cũng đã được báo cáo gây ra những thay đổi trên điện tâm đồ, như tạo ra sóng T dẹt, kéo dài khoảng QTc và đoạn ST chênh xuống, dù chưa biết rõ ý nghĩa lâm sàng của những phát hiện này. Do đó, cần thận trọng khi dùng Breztri Aerosphere cho bệnh nhân có các rối loạn tim mạch, đặc biệt là suy mạch vành, rối loạn nhịp tim và tăng huyết áp.

Giảm mật độ xương:

  • Giảm mật độ xương (BMD) đã được ghi nhận khi sử dụng dài hạn các thuốc có chứa ICS. Ý nghĩa lâm sàng của những thay đổi nhỏ trong BMD liên quan đến hậu quả lâu dài như gãy xương hiện chưa được biết rõ. Bệnh nhân có các yếu tố nguy cơ chính làm giảm hàm lượng khoáng chất trong xương, như bất động lâu ngày, tiền sử gia đình bị loãng xương, phụ nữ sau mãn kinh, hút thuốc lá, tuổi cao, chế độ dinh dưỡng kém hoặc sử dụng dài hạn các loại thuốc có thể làm giảm khối lượng xương (ví dụ: Thuốc chống co giật, corticosteroid đường uống) cần được theo dõi và điều trị phù hợp. Do bệnh nhân COPD thường có nhiều yếu tố nguy cơ làm giảm BMD nên đánh giá BMD trước khi bắt đầu sử dụng Breztri Aerosphere và định kỳ sau đó. Nếu BMD giảm đáng kể và Breztri Aerosphere vẫn là thuốc quan trọng để điều trị COPD của bệnh nhân đó, thì cần cân nhắc kỹ việc sử dụng thuốc điều trị hoặc ngăn ngừa loãng xương.
  • Trong một thử nghiệm kéo dài 24 tuần và thời gian theo dõi độ an toàn kéo dài thêm 28 tuần, ảnh hưởng của Breztri Aerosphere 320/18/9,6 mcg và GFF MDI 18/9,6 mcg lên chỉ số BMD đã được đánh giá trên một nhóm nhỏ bệnh nhân COPD. Việc đánh giá BMD được thực hiện tại thời điểm ban đầu và sau 52 tuần bằng cách sử dụng phương pháp đo hấp thụ tia X năng lượng kép (DEXA). Phần trăm thay đổi trung bình của BMD so với ban đầu là – 0,1% đối với Breztri Aerosphere 320/18/9,6 mcg và 0,4% đối với GFF MDI 18/9,6 mcg.

Tăng nhãn áp và đục thủy tinh thể, tăng nhãn áp góc khép diễn tiến nặng:

  • Đã có báo cáo về bệnh tăng nhãn áp, gia tăng áp lực bên trong mắt và đục thủy tinh thể trên bệnh nhân COPD sau khi sử dụng dài hạn ICS hoặc khi sử dụng các thuốc kháng cholinergic dạng hít. Thận trọng khi sử dụng Breztri Aerosphere ở những bệnh nhân bị bệnh glaucom góc đóng. Bác sĩ kê đơn và bệnh nhân cần cảnh giác về các dấu hiệu và triệu chứng của bệnh glaucom góc đóng cấp tính (ví dụ, đau hoặc khó chịu ở mắt, nhìn mờ, quầng sáng hoặc hình ảnh nhiều màu liên quan đến mắt đỏ do sung huyết kết mạc và phủ giác mạc). Hướng dẫn bệnh nhân trao đổi với bác sĩ ngay lập tức nếu có bất kỳ dấu hiệu hoặc triệu chứng nào như trên. Nếu bệnh nhân có các triệu chứng ở mắt hoặc sử dụng Breztri Aerosphere lâu dài, nên cân nhắc xin tư vấn của bác sĩ nhãn khoa.
  • Một thử nghiệm kéo dài 52 tuần đánh giá Breztri Aerosphere 320/18/9,6 mcg, GFF MDI 18/9,6 mcg và BFF MDI 320/9,6 mcg trên những bệnh nhân COPD cho thấy, tỷ lệ đục thủy tinh thể dao động từ 0,7% đến 1,0% ở các nhóm.

Tình trạng bí tiểu diễn tiến nặng:

  • Tương tự như tất cả các thuốc kháng cholinergic, cần thận trọng khi sử dụng Breztri Aerosphere trên những bệnh nhân bị bí tiểu. Bác sĩ và bệnh nhân nên cảnh giác về các dấu hiệu và triệu chứng của phi đại tuyến tiền liệt hoặc tắc nghẽn cổ bàng quang (ví dụ: Khó tiểu, tiểu buốt), đặc biệt ở những bệnh nhân đã bị phì đại tuyến tiền liệt hoặc tắc nghẽn cổ bàng quang. Hướng dẫn bệnh nhân tham khảo ý kiến bác sĩ ngay khi có bất kỳ dấu hiệu hoặc triệu chứng như vậy.

Các bệnh mắc kèm:

  • Tương tự như tất cả các thuốc chứa amin cường giao cảm, cần thận trọng khi sử dụng Breztri Aerosphere ở những bệnh nhân bị các rối loạn co giật hoặc nhiễm độc giáp và những người có phản ứng bất thường với các amin cường giao cảm. Khi tiêm tĩnh mạch albuterol, một thuốc chủ vận thụ thể beta, khác trong nhóm, đã làm bệnh tiểu đường trầm trọng hơn và tăng biến chứng nhiễm ceton.

Hạ kali máu và tăng đường huyết:

  • Thuốc chủ vận beta-adrenergic có thể gây hạ kali máu đáng kể trên một số bệnh nhân, có thể thông qua shunt nội bào gây ra các tác dụng bất lợi trên tim mạch. Hạ kali huyết thường thoáng qua, không cần bổ sung. Các thuốc chủ vận beta, có thể làm tăng đường huyết thoáng qua ở một số bệnh nhân.

Đối tượng bệnh nhân đặc biệt:

Trẻ em:

  • Breztri Aerosphere không được chỉ định cho trẻ em. Tính an toàn và hiệu quả của Breztri Aerosphere trên bệnh nhân nhi chưa được chứng minh.

Người cao tuổi:

  • Dựa trên các dữ liệu hiện có, không cần chỉnh liều Breztri Aerosphere trên bệnh nhân cao tuổi, tuy nhiên không thể loại trừ một số bệnh nhân cao tuổi nhạy cảm với thuốc.
  • Trong thử nghiệm 1 và 2, lần lượt 1100 đối tượng và 343 đối tượng từ 65 tuổi trở lên được sử dụng Breztri Aerosphere 320 mcg/18 mcg/9,6 mcg hai lần mỗi ngày. Trong cả hai thử nghiệm, chưa ghi nhận sự khác biệt tổng thể về tính an toàn hoặc hiệu quả giữa đối tượng này và đối tượng trẻ tuổi hơn.

Bệnh nhân suy gan:

  • Chưa có nghiên cứu chính thức về dược động học Breztri Aerosphere trên bệnh nhân suy gan. Tuy nhiên, do budesonid và formoterol fumarat chủ yếu được thải trừ qua chuyển hóa ở gan, chức năng gan suy giảm có thể dẫn đến tích lũy budesonid và formoterol fumarat trong huyết tương. Do vậy, bệnh nhân bị bệnh lý gan nặng cần được theo dõi chặt chẽ.

Bệnh nhân suy thận:

  • Chưa có nghiên cứu chính thức về dược động học Breztri Aerosphere trên bệnh nhân suy thận. Tuy nhiên, ở bệnh nhân suy thận nặng (độ thanh thải creatinin ≤ 30 ml/phút/1,73m2) hoặc bệnh thận giai đoạn cuối cần lọc máu, chỉ nên sử dụng Breztri Aerosphere nếu lợi ích vượt trội nguy cơ.

Phụ nữ mang thai và cho con bú

Phụ nữ mang thai:

  • Chưa có các nghiên cứu đầy đủ và được kiểm soát tốt trên đối tượng phụ nữ có thai sử dụng Breztri Aerosphere hoặc với hai trong số các thành phần riêng lẻ của thuốc, glycopyrrolat hoặc formoterol fumarat, để cung cấp thông tin về nguy cơ có liên quan đến thuốc; tuy nhiên, hiện đã có nghiên cứu về thành phần khác là budesonid.
  • Trong các nghiên cứu về khả năng sinh sản trên động vật, budesonid dùng đơn độc theo đường dưới da, có thể gây ra các bất thường về cấu trúc thai, gây chết phôi thai và làm giảm cân nặng thai nhi ở chuột và thỏ ở mức liều tương ứng bằng 0,3 và 0,75 lần liều hít hàng ngày tối đa được khuyến cáo ở người (MRHDID), tuy nhiên, không ghi nhận được những tác dụng này ở chuột dùng liều hit gấp đến 4 lần MRHDID. Các nghiên cứu về phụ nữ có thai sử dụng budesonid dạng hít đơn độc trong thai kỳ chưa cho thấy sự gia tăng nguy cơ bất thường. Kinh nghiệm với corticosteroid đường uống cho thấy động vật gặm nhấm dễ bị tác dụng gây quái thai khi phơi nhiễm với corticosteroid hơn so với người.
  • Formoterol fumarat dùng đơn độc bằng đường uống ở chuột và thỏ gây ra các bất thường về cấu trúc thai ở mức liều tương ứng gấp 1500 và 61.000 lần MRHDID. Formoterol fumarat cũng có tác dụng gây chết phôi thai, làm tăng tỷ lệ mất con khi sinh và trong thời kỳ cho con bú, và giảm trọng lượng con ở chuột với liều gấp 110 lần MRHDID. Những tác dụng ngoại ý thường xảy ra với liều gấp nhiều lần MRHDID khi dùng formoterol fumarat bằng đường uống để đạt nồng độ toàn thân cao. Không có bất thường về cấu trúc thai, gây chết phôi thai hoặc phát triển ở những con chuột nhận liều hit lên đến 350 lần MRHDID.
  • Glycopyrrolat dùng đơn độc theo đường dưới da ở chuột và thỏ, không gây ra bất thường và cấu trúc thai hoặc ảnh hưởng đến sự sống của bào thai ở mức liều tương ứng gấp khoảng 2700 và 5400 lần MRHDID. Glycopyrolat không ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất, chức năng và hành vi của chuột con ở mức liều gấp đến 2700 lần MRHDID.
  • Chưa ước tính được nguy cơ ban đầu của các dị tật bẩm sinh nặng và sảy thai đối với phụ nữ mang thai được chỉ định dùng thuốc. Tại Hoa Kỳ, ước tính nguy cơ ban đầu xảy ra các dị tật bẩm sinh nặng và sảy thai trong các thai kỳ đã được ghi nhận lâm sàng tương ứng là 2 – 4% và 15 – 20%.

Cân nhắc về mặt lâm sàng:

  • Chuyển dạ hoặc sinh con: Chưa có nghiên cứu được kiểm soát tốt trên người nhằm đánh giá tác động của Breztri Aerosphere đối với chuyển dạ sinh non hoặc khởi phát chuyển dạ. Do khả năng ức chế co thắt tử cung của các thuốc chủ vận beta, chỉ sử dụng Breztri Aerosphere trong khi chuyển dạ ở những bệnh nhân khi lợi ích rõ ràng nhiều hơn nguy cơ.

Phụ nữ cho con bú:

  • Hiện chưa có dữ liệu về ảnh hưởng của Breztri Aerosphere, budesonid, glycopyrrolat, hoặc formoterol fumarat lên trẻ bú mẹ hoặc sự bài tiết sữa. Tương tự như ICS khác, budesonid được bài tiết qua sữa mẹ. Hiện chưa có dữ liệu về sự có mặt của glycopyrrolat hoặc formoterol fumarat trong sữa mẹ. Formoterol fumarat và glycopyrrolat được phát hiện trong huyết tương của chuột con bú sữa của mẹ có dùng thuốc. Lợi ích về phát triển và sức khỏe của việc bú mẹ cần được cân nhắc với nhu cầu điều trị của người mẹ bằng Breztri Aerosphere và các tác dụng không mong muốn tiềm tàng đối với trẻ bú mẹ liên quan đến Breztri Aerosphere hoặc liên quan đến bệnh lý nền của người mẹ.
  • Trong nghiên cứu về độc tinh lên khả năng sinh sản và phát triển ở chuột, nồng độ glycopyrrolat trong huyết tương được đo ở chuột con vào ngày thứ 4 sau sinh. Nồng độ tối đa ở chuột con là 6% so với liều ở chuột mẹ là 10 mg/kg/ngày (nồng độ của thuốc trong huyết tương chuột con là 96 ng/ml vào 1 giờ sau khi dùng thuốc tương ứng với nồng độ của thuốc trong huyết tương chuột mẹ là 1610 ng/ml vào 0,5 giờ sau khi cùng thuốc).

Người lái xe và vận hành máy móc

  • Breztri Aerosphere không có hoặc ảnh hưởng không đáng kể đến khả năng lái xe và vận hành máy móc. Tuy nhiên, chóng mặt là một tác dụng phụ không phổ biến cần được lưu ý khi lái xe hoặc vận hành máy móc.

Bảo quản

  • Nơi khô, tránh ánh sáng, nhiệt độ dưới 30°C.
Xem thêm nội dung
Bình luận của bạn
Đánh giá của bạn:
*
*
*
 Captcha

Tại sao chọn chúng tôi

8 Triệu +

Chăm sóc hơn 8 triệu khách hàng Việt Nam.

2 Triệu +

Đã giao hơn 2 triệu đơn hàng đi toàn quốc

18.000 +

Đa dạng thuốc, thực phẩm bổ sung, dược mỹ phẩm.

100 +

Hơn 100 điểm bán và hệ thống liên kết trên toàn quốc

NHÀ THUỐC HOÀNG CHINH

  • 345 Nguyễn Văn Công, Phường Hạnh Thông, TP.HCM

CSKH: 0906948089
Email: cskh@nhathuochoangchinh.vn
Website: www.nhathuochoangchinh.vn

Nhà Thuốc Hoàng Chinh –  Tel: 0906948089 (8h00 – 21h00)

Thiết kế website Webso.vn